Tải và vận chuyển tối đa Transit maxima của ống thận đối với thành phần nước tiểu

  • KHẢ NĂNG TẢI CỦA ỐNG (TUBULAR LOAD)

Khả năng tải của ống đối với một chất là lượng chất đó được lọc qua màng cầu thận vào ống thận mỗi phút. Ví dụ, mỗi phút có 125 ml dịch lọc qua cầu thận, nồng độ glucose trong máu là lOOmg/lOOml thì khả năng tải của ống thận đối với glucose là

x _ ^25 mg/ phút. Tương tự như vậy khả năng tải của ống thận với Na+ là 18 mEq/ phút; của ion cr là 13 mEq/ phút.

  • KHẢ NĂNG VẬN CHUYỂN TỐI ĐA CỦA ỐNG THẬN ĐỐI VỚI MỘT CHẤT

Mỗi chất được hấp thu hoặc bài tiết tích cực cần phải có một hệ thống vận chuyển đặc hiệu khu trú trong các tế bào biểu mô ống thận. Lượng tối đa mà chất đó có, thể được tái hấp thu hoặc bài tiết phụ thuộc vào tốc độ hoạt động tối đa của hệ thống vận chuyển, nghĩa là phụ thuộc vào lượng chất mang và các enzym đặc hiệu. Như vậy mỗi chất được tái hấp thu tích cực đều có một tốc độ tái hấp thu tối đa riêng của chất đó, và được gọi là khả năng vận chuyển tối đa của ống thận đối với chất đó (Tm).

Ví dụ Tm của glucose là 320 mg/phút, nếu khả năng tải của ống thận đối với glucose lớn hơn 320 mg/phút thì lượng ạlucose thừa ra sẽ đi vào nước tiểu. Bình thường khả năng tải của ống thận với glucose là 125 mg/phút, nên tất cả glucose đều được tái hấp thu. Nếu nồng độ glucose trong máu tăng lên đến 180 mg/ 100 ml, khả năng tải của ống thận đôi với glucose là 220 mg/phút, thì glucose bắt đầu xuất hiện trong nước tiểu. Nếu khả năng tải của ống thận với glucose tăng đến 400 mg/phút thì lượng glucose bị mất theo nước tiểu sẽ bằng khả năng tải của ống trừ đi Tm của glucose, tức là bằng 400 mg/phút – 320 mg/phút = 80 mg/phút.

Xem thêmNhững bài thuốc hay chữa yếu sinh lý từ con Tắc KèNhững loại rau giúp thải độc tố trong máu hiệu quả

  • NGƯỠNG CỦA THẬN ĐỐI VỚI NHỮNG CHẤT CÓ Tm

Khi một chất có Tm thì chất đó cũng có một nồng độ ngưỡng trong huyết tương, nghĩa là nếu nồng độ chất đó trong huyết tương thấp hơn ngưỡng thì chất đó không có trong nước tiểu. Nếu cao hơn, chất đó sẽ xuất hiện trong nước tiểu. Ví dụ khi nồng độ glucose trong máu là 180 mg/ 100 ml thì khả năng tải của ống đối với glucose là 220 mg/phút và glucose bắt đầu xuất hiện trong nước tiểu. Như vậy 180 mg/ 100 ml là ngưỡng thận đôl với glucose.

Bảng 6-1 – Tm của một số chất được tái hấp thu ở ống thận.

Chất được tái hấp thu Tm (mg/phút) Chất được tái hấp thu Tm (mM/phút)
glucose 320
protein 30 acid amin 1,5
hemoglobin 1 phosphat 0,1
lactat 75 sulphat 0,06
urat 15
acetoacetat 30
  • SỰ TÁI HẤP THU CỦA NHỮNG CHẤT KHÔNG CÓ Tm

Sự hấp thu của các chất theo cơ chế khuếch tán phụ thuộc vào hai yếu tố:

  • Bậc thang nồng độ qua màng của chất đó, bậc thang này không có bất kỳ một giới hạn tối đa nào.
  • Thời gian dịch chứa chất này được lưu giữ trong lòng ống. Vì vậy sự vận chuyển của các chất theo cơ chế khuếch tán được gọi là sự vận chuyển bậc thang – thời gian (gradient-time transport).

Na+ là một chất được tái hấp thu nhanh theo cơ chế vận chuyển tích cực nhưng lại không có trong danh sách các chất có Tm bởi vì bên cạnh yếu tố tốc độ tối đa của quá trình vận chuyển tích cực, còn có những yếu tố khác giới hạn tốc độ vận chuyển của Na+ .

Đó là: trong ống lượn gần, tốc độ vận chuyển tích cực của Na từ tế bào qua màng đáy – bên vào dịch kẽ lớn hơn rất nhiều so với tốc độ khuếch tán thụ động của Na+ từ lòng ống qua diềm bàn chải vào tế bào. Như vậy tốc độ tối đa của cơ chế vận chuyển tích cực không thể là yếu tố giới hạn quyết định tốc độ tái hấp thu Na+.

Ngoài ra còn có một yếu tố khác cũng giới hạn sự hấp thu Na+. Đó là sự khuếch tán ngược trở lại của nhiều ion Na+ từ dịch kẽ qua các môi nôi giữa các tế bào biểu mô để vào lòng ống. Vì những lý do trên, sự vận chuyển của Na+ ở ống lượn gần chủ yếu tuân theo nguyên lý của sự vận chuyển bậc thang-thời gian, hơn là khả năng vận chuyển tôi đa.

Nghĩa là, nồng độ Na+ trong ông lượn gần càng lớn, thời gian dịch được giữ trong ông lượn gần càng lâu, thì sự tái hấp thu của Na+ càng nhiều, ở các đoạn xa của ống thận, các môi nối giữa các tế bào biểu mô khít chặt hơn, nồng độ Na+ trong lòng ông thấp hơn, nên sự vận chuyển của Na* lại có Tm giống như các chất được tái hấp thu tích cực khác. Hơn nữa Tm đối với Na+ còn phụ thuộc vào nồng độ của các hormon aldosteron và angiotensin II để kiểm soát tô”c độ bài xuất Na* vào nước tiểu.

  • CÂN BẰNG CẦU THẬN-ỐNG THẬN TRONG ỐNG LƯỢN GẦN

Khi nghiên cứu về sự tái hấp thu của ion Na+ và của nước trong ống lượn gần, người ta phát hiện ra một tác dụng đặc biệt quan trọng gọi là “cân bằng cầu thận- ống thận”.

Nghĩa là trong những điều kiện bình thường, khi dịch lọc đi qua ống lượn gần, khoảng 65% ion Na+ và nước sẽ được tái hấp thu. Tỉ lệ % này là hằng định cho dù lưu lượng lọc cầu thận có thay đổi. Ví dụ, khi lưu lượng lọc cầu thận là 100 ml/phút, thì tái hấp thu ở ống lượn gần là 65 ml/phút; khi lưu lượng lọc cầu thận tăng đến 200 ml/phút, lưu lượng tái hấp thu ở ống lượn gần cũng tăng gấp đôi, nghĩa là bằng 130 ml/phút để duy trì sự cân bằng theo tỉ lệ khoảng 65% dịch lọc cầu thận.

Sự cân bằng cầu thận-ống thận có tác dụng ngăn ngừa tình trạng quá tải của các phần sau của ống thận mỗi khi lưu lượng lọc cầu thận tăng lên. Ngoài ra cơ chế điều hòa ngược để kiểm soát lưu lượng lọc cầu thận cũng có vai trò quan trọng trong việc ngăn cho các phần sau của ông thận khỏi bị quá tải. Kết quả là các hệ thống điều hòa ở ống thận nhằm kiểm soát nồng độ các chất bài xuất theo nước tiểu hoạt động một cách hữu hiệu.

Comments are closed.